Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

Bạn có căn nhà Phật, hay căn nhà Thánh, con Bốn Phủ, bạn có phải trình đồng mở phủ, được ăn lộc soi, lộc bói hay không, hay chỉ căn thờ phụng,...Bạn muốn lập nghiệp nhưng chưa biết phải lam gì, đi như thế nào, bạn muốn đi làm xa, đi nước ngoài,..Bạn muốn biết âm phần, mồ mả, đất cát....hãy liên hệ với Cậu Vũ sdt 0969215093or yh binketpro88or face: xem bói cậu vũ.
 Xem phong thủy kinh doanh, ban lệnh công danh, lệnh làm ăn buôn bán, lệnh thăng tiến, lệnh đi nước ngoài,...lập đàn Dược Sư trị bách bệnh. ADIDAPHAT.

VỊ TRÍA CHIÊU TÀI CHO KINH DOANH


  1. VỊ TRÍA CHIÊU TÀI CHO KINH DOANH


  2. Theo phong thủy, vị trí chiêu tài còn gọi là "tài vị", có ảnh hưởng đến sự phát triển của công việc kinh doanh.

  3. Thông thường, vị trí chiêu tài từ góc trái phía trước cửa vào; tuyệt đối không gây nhiều biến động nếu không sẽ ảnh hưởng đến tài vận.

  4. Để có vị trí chiêu tài thích hợp, bạn cần biết những điều sau:

  5. Vị trí chiêu tài nên sáng
  6. Ánh sáng mặt trời hay ánh sáng đèn chiếu sẽ tạo nguồn sinh khí mới. Điều này mang lại vượng khí cho công ty.


  7. Vị trí chiêu tài nên sinh
  8. "Sinh" là chỉ sức sống dồi dào. Vì thế, khi sắp xếp vị trí chiêu tài nên có cây xanh, đặc biệt là những cây lá to và dày. Không nên trồng các loại xương rồng, cây lá kim vì chúng mang sát khí.

  9. Vị trí chiêu tài nên cát
  10. Đây là nơi tích tụ vượng khí. Nếu đặt thêm những linh vật cát tường như: tượng thần Tài, 3 ông Phúc, Lộc, Thọ thì càng thêm cát tường. Nó có tác dụng như "hổ thêm cánh".

  11. Vị trí chiêu tài kỵ bị áp chế
  12. Nếu phải chịu áp lực ở 1 chiếc tủ to, nặng hoặc giá sách... thì ảnh hưởng không tốt đến tài vận cửa hàng.

  13. Vị trí chiêu tài kỵ nước
  14. Một số người thích để bể cá ở vị trí chiêu tài nhưng như vậy thì không được tốt. Vì đã để thần Tài tích tụ nơi bể cá, trở thành "gặp tài hóa Thủy". Do vậy, ở những nơi này không thích hợp để trồng hoặc nuôi dưỡng động, thực vật có liên quan đến nước.


  15. Vị trí chiêu tài kỵ khoảng trống
  16. Phía sau vị trí chiêu tài nên có bức tường kiên cố. Có như vậy mới tàng phong tụ khí. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ bị tán tài tán lộc.


  17. Vị trí chiêu tài kỵ xung đột
  18. Trong phong thủy, kỵ nhất những góc nhọn xung nhau. Gần vị trí chiêu tài không thích hợp có các góc sắc nhọn để tránh ảnh hưởng đến tài vận. Các góc nhọn càng gần vị trí chiêu tài thì xung càng lớn.

  19. Vị trí chiêu tài kỵ ô nhiễm
  20. Nếu nhà vệ sinh nằm trong chính vị chiêu tài thì khiến tài lộc hao tổn. Nơi này phải luôn ngăn nắp, sạch sẽ.

Phong Thủy nhà cửa

XÁC ĐỊNH HƯỚNG NHÀ HƯỚNG CỬA

Hiện nay có rất nhiều sách phong thủy và cũng nhiều trường phái có các cách xác định hướng nhà và hướng cửa khác nhau. Điều này làm cho nhiều người thấy khó khăn trong ứng dụng vào thực tiễn của ngôi nhà mình, làm cho nhiều người không biết xác định như thế nào là đúng.

Xác định hướng nhà:
Hướng nhà ta xác định dựa trên khoảng không có s nhiều dương khí nhất thì để xác định làm hướng nhà:
- Nhà có sân rộng thì mặt có sân là hướng nhà
- Nhà có 1 mặt tiền giáp đường, còn 3 mặt còn lại không có con đường thì mặt có con đường là hướng nhà
- Nhà có 2 mặt giáp đường. thì ta căn cứ cửa chính nằm ở bên đường nào thì mặt đó là hướng nhà
------ Nói tóm lại hướng nhà là hướng có đường thẳng vuông góc với mặt tiền của ngôi nhà. Mặt tiền của ngôi nhà là mặt có cửa chính. Như vậy đây là cách xác định hướng nhà chính xác nhất. mọi người đều thấy đơn giản và áp dụng dễ dàng.



Hướng bắc
Trong ví dụ trên, moi người có thể hiểu rõ về hướng nhà.

Xác định hướng cửa
Nhiều người nhầm tưởng hướng nhà chính là hướng cửa
Hướng cửa là hướng có đường thẳng vuông góc với mặt ngang của cửa.
- Hướng cửa có 2 trường hợp:
+ Hướng cửa trùng với hướng nhà:


Hướng nhà
Hướng cửa
Hướng bắc
Như vậy trong trường hợp này thì hướng nhà là hướng bắc, hướng cửa cũng là hướng bắc. Hướng nhà và hướng cửa trùng nhau.

+ Hướng nhà không trùng với hướng cửa


Hướng nhà Hướng cửa
Bắc Tây bắc

Trường hợp nhà này thì hướng cửa khác với hướng nhà.
Như vậy qua định nghĩa và hai trường hợp về hướng nhà và hướng cửa, mọi người đã hình dung cho mình được chính xác nhất hướng nhà và hướng cửa.



HƯỚNG PHONG THỦY CỬA HÀNG, VĂN PHONG, NGÂN HÀNG,....


1. Thuật phong thủy trong lựa chọn cửa hàng (trang 12-15): Tác giả cũng lại cho rằng, hướng cửa hàng đẹp nhất là Bắc-Nam (điều này quá sáo mòn, không đáng bàn thêm vì những bài khảo nghiệm trước đã đề cập đến nhiều rồi). Tuy nhiên, các tác giả lại có một kết luận rất lạ đời rằng, khi tiến hành làm ấm hoặc làm mát cửa hàng để tiến hành các hoạt động mua sắm thì: “Trong phong thủy gọi là âm dương tương khắc hoặc ngũ hành tương sinh”? Không cần phân tích sâu về khái niệm triết học ăn theo - nói leo này, không cần hiểu gì về phong thủy thì khi gặp nóng-lạnh, những người chủ cửa hàng cũng sẽ biết cách giải quyết thực tế như vậy, trừ phi họ là những đứa trẻ lên ba!

2. Ảnh hưởng của phương hướng cửa hàng đến phong thủy (trang 54): “Những hướng hợp với cửa hàng, công ty:

- Văn phòng luật, trung tâm chữa bệnh: Hướng Bắc hoặc Đông.

- Công ty hàng không, công ty tài chính, bảo hiểm: Tây Bắc hoặc Đông Nam.

- Ngân hàng, công ty xây dựng, kiến trúc, xuất nhập khẩu: Hướng Bắc hoặc Đông.

- Đại lý bán buôn, cửa hàng ăn uống: Hướng Bắc hoặc Đông Nam”. Ngoài ra các tác giả cũng đưa ra bảng kê các tuổi theo 12 con giáp với những hướng kị, hướng tốt (trang 58), ví dụ: “ Người tuổi Tý kị hướng Bắc, nên chọn hướng Tây, Nam, Đông; tuổi Mùi kị hướng Đông, nên chọn hướng Nam, Bắc, Tây; tuổi Dậu kị hướng Tây, nên chọn hướng Nam, Bắc, Đông…”. Thế nhưng, chính kiến thức phong thủy của tác giả lại làm khó cho người đọc, bởi ví như một người tuổi Tý muốn mở văn phòng luật hướng Bắc (là hướng bị kị) mà không có điều kiện tìm được hướng khác có nghĩa là phải dừng ý định cho đến lúc tìm được hướng tốt? Hay như người tuổi Mùi muốn mở công ty kiến trúc cửa hướng Đông (là hướng bị kị) vì không thể tìm được hướng nào khác sẽ không dám thực hiện ý định của mình nữa? Cứ như vậy nhiều người sẽ không biết tin vào kiến thức nào?

3. Phương hướng khác nhau với những nghề kinh doanh khác nhau: Các tác giả nêu lên hướng tốt tiêu chuẩn cho những mặt hàng kinh doanh cụ thể (trang 61-62), ví dụ: “Quầy hàng kinh doanh thực phẩm, đại lý bán cá, đồ hải sản nên mở cửa hàng hướng Đông, Nam, Đông Nam; những cửa hàng chế biến thực phẩm mở hướng Nam, Đông Nam có nhiều lợi nhuận; quầy hoa qủa tươi bày phía Bắc, Nam sẽ kinh doanh tốt; tiệm bánh ngọt nên thiết kế cửa vào hướng Nam, Đông, Đông Nam; đồ gia dụng, sản xuất gỗ nên ở hướng Nam hoặc Tây Nam sẽ có lợi…”. Vấn đề đặt ra cũng như đã nói ở phần trên, chẳng nhẽ nếu không chọn được đúng hướng thì mọi người sẽ không dám kinh doanh hoặc vừa kinh doanh vừa lo bị lỗ? Chưa kể một số cửa hàng tạp phẩm bán cả trăm loại hàng hóa khác nhau từ bim bim đến sim điện thoại thì quay về đâu? Với những nhà kinh doanh cơm hộp văn phòng, giao đến tận tay người đặt hàng thì cửa nhà họ quay về hướng nào quan trọng gì? Thực tế tại những phố buôn bán cùng một mặt hàng ở Hà Nội như đồ kim khí, quần áo, sơn vôi, vật liệu xây dựng đồng loạt mở cửa hàng cùng một hướng số nhà lẻ và đối diện với những cửa hàng số chẵn vẫn kinh doanh tốt và cũng không thể chọn hướng nào khác ngoài hướng nhìn ra mặt đường, nếu không như thế thì mua bán, quảng cáo hàng cho ai?

4. Bố cục sao cho dễ kiếm được nhiều tiền cho cửa hàng: Bố cục tam lưu-ba dòng (trang 143): Các tác giả đưa ra quan điểm: “Tam lưu ở đây để chỉ dòng nước, dòng xe, dòng người. Dòng nước là do dòng khí lưu chuyển, dòng xe, dòng người cũng thuộc dòng khí lưu động, vì thế cửa hàng tốt nhất nên chọn ở chỗ bên ngoài dòng nước lưu động như bến đò, bến sông chẳng hạn. Phong thủy cửa hàng bắt buộc phải có dòng nước, dòng xe hoặc dòng người lưu động mới có thể phát tài vượng được. Nếu không có ba dòng lưu chuyển này, việc kinh doanh rất khó triển khai tốt được”. Các nhà phong thủy viết kiểu này khiến độc giả đau đầu, nhất là những ai muốn kinh doanh. Phần trước, vừa chỉ dẫn là phải chọn nơi sầm uất, đông người, trung tâm buôn bán để mở hàng mới có lợi thì phần này lại khăng khăng rằng nên chọn chỗ ở bến đò, bến sông? Vả lại, nếu muốn có khí lưu động thì khó gì đâu, chỉ cần đặt một cái quạt công nghiệp ở trước cửa hàng thì khí nổi ầm ầm ngay thôi!

- Phương pháp bố trí chiêu tài, còn gọi là tài vị (trang 144 – 146): Các tác giả cho rằng: “Cái gọi là tài vị trong phong thủy có những cách nói khác nhau. Có người cho rằng vị trí chiêu tài nằm ở góc cửa nhà, có người cho rằng vị trí chiêu tài nằm ở vị trí tam bạch trong nhà: Đó là ba vị trí Nhất bạch-Lục bạch và Bát bạch... Thông thường, vị trí chiêu tài từ góc trái phía trước đi vào, cho nên chỗ này rất cần phải có ít biến động, không thể làm đường đi được, nếu không sẽ ảnh hưởng đến tài vận”. Thế nhưng, lại chẳng ai chỉ dẫn cho người kinh doanh biết phía nào của góc cửa nhà và tại cửa nào (ví như nhà nhiều hơn một cửa) là nơi tụ khí? Và những người bình thường sao hiểu được những vị trí Nhất bạch-Lục bạch và Bát bạch ra mô ra tê? Đấy là chưa bàn đến chuyện phóng tác ngữ nghĩa, vì vị trí chiêu tài khác với địa điểm chiêu tài. Nếu địa điểm chiêu tài (nơi đặt cửa hàng) thì còn hy vọng làm ăn phát đạt, còn vị trí chiêu tài (một chỗ nào đó trong cửa hàng) thì chỉ có mỗi chỗ đó mới có tài, còn cửa hàng khó mà tài vượng được!

- Vậy mà, vẫn dựa vào lý thuyết này, các tác giả cung cấp ba điều thích hợp đối với vị trí chiêu tài là (trang 147- 148): “Vị trí chiêu tài nên sáng, không nên tối mờ. Sáng sủa thì sinh khí mới tràn đầy. Nếu vị trí chiêu tài ở đây có ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng đèn chiếu sẽ có lợi cho việc sinh vượng; vị trí chiêu tài nên sinh. Cái gọi là sinh để chỉ sức sống dồi dào, cho nên khi sắp xếp vị trí chiêu tài nên có cây xanh, đặc biệt là những cây lá to nhưng cần lưu ý rằng, trồng những loại cây này nên dùng bằng đất sét, nếu dùng nước để chăm sóc sẽ không tốt; vị trí chiêu tài nên cát. Là những nơi tích tụ vượng khí, nếu những nơi đó có những linh vật đại diện cho cát tường như tượng Phúc-Lộc-Thọ hoặc tượng thần tài thì càng thêm cát tường”. Nếu đã coi ánh sáng thiên nhiên (mặt trời) cũng không khác gì ánh sáng nhân tạo (đèn điện) thì việc gì phải trồng cây thật rồi không dùng nước chăm sóc, kiểu gì cây cũng chết? Chi bằng cứ dùng cây giả để vừa tạo phong thủy đúng ý, vừa đỡ phải chăm sóc tốn công? Và nếu mấy cái tượng có ý nghĩa cát tường sẽ tăng thêm cát tường thì tại sao chủ cửa hàng không bày thêm nhiều tượng nữa để tiền, khách hàng tự ồ ạt vào?





XÁC ĐỊNH PHƯƠNG VI TÀI LỘC CỦA NGÔI NHÀ THEO PHONG THỦY ( vị trí là một chỗ nào đó trong nhà, cửa hàng. khác với địa điểm, là điểm xây mua nhà...)

Về tổng thể, các phái phong thủy đều quan niệm “sơn quản nhân đinh, thủy quản tài”. Do đó phương pháp luận đoán, tăng vượng khí và thủy pháp của một công trình kiến trúc (âm trạch, hoặc dương trạch) khá tương đồng.

Trong một ngôi nhà cụ thể, việc xác định vị trí chiêu tài (tài sản, sức khỏe, phúc đức…), thì phái Bát Trạch chú dẫn khá tường tận, vận dụng vào thực tế rất linh nghiệm.

Theo phương pháp Bát Trạch, một ngôi nhà có 4 vị trí có thể gọi chung là tài vị, và 4 vị trí xung sát (cả với mệnh cung phong thủy của chủ nhà và phong thủy của ngôi nhà).

Bốn vị trí chủ tài gồm: Sinh khí, chủ về tiền tài, kinh doanh; Thiên y, chủ về sức khỏe, bệnh tật, thuốc men; Diên niên, chủ về tuổi thọ, tình duyên, quan hệ trong gia đình và xã hội; Phục vị chủ về phúc đức gia đình, mồ mả tổ tiên, nhân sự.

Bốn vị trí xung sát gồm: Ngũ quỷ, chủ về tài sản, tình cảm gia đình, phúc âm, mồ mả; Lục sát, chủ về quan vận, văn nghiệp, giao tiếp xã hội; Họa hại, chủ về bệnh tật, tai ách; Tuyệt mệnh, chủ về nhân thọ, tai nạn, an ninh…

Bốn vị trí tài lộc, được xác định theo phương pháp biến quẻ của Bát Trạch sau khi biết tọa sơn của ngôi nhà.

Ví dụ như nhà hướng Đông Nam, tức tọa sơn tại Tây Bắc. Nhà này sẽ có vị trí Phục vị tại sơn chủ, vị trí sinh khí tại chính Tây, diên niên tại Tây Nam, thiên y tại Đông Bắc; họa hại tại Đông Nam, ngũ quỷ tại chính Đông, tuyệt mệnh tại chính Nam, lục sát tại chính Bắc.

Xác định vị trí tốt xấu của ngôi nhà xong, lại xem mệnh cung phong thủy của chủ nhà ở đâu để hóa sát hoặc tăng vượng khí.

Ví dụ, người sinh năm 1957, mệnh cung phong thủy tại cung đoài (chính tây), bốn vị trí tài lộc gồm: Sinh khí tại Tây Bắc, thiên y tại Tây Nam, phục vị tại chính Tây, diên niên tại Đông Bắc; bốn vị trí sát gồm: Họa hại tại chính Bắc, ngũ quỷ tại chính Nam, tuyệt mệnh tại chính Đông, lục sát tại Đông Nam.

Nếu người sinh năm 1957 có ngôi nhà hướng Đông Nam như nêu trên, hợp các vị trí tốt xấu của nhà và ngược lại sẽ thấy các vị trí tốt và xấu chồng lên nhau, sau đó tùy theo ngũ hành bản mệnh của chủ nhà, ngũ hành của các sao và vị trí tốt xấu như đã nêu trên để hóa sát, tăng vận khí.

Phương pháp của Bát Trạch từ xưa đến nay được áp dụng rất phổ biến và hiệu nghiệm. Nếu phối hợp với phương pháp của Huyền Không để tính vận khí cho nhà và chủ nhà theo từng năm, từng tháng để chủ động hóa sát đổi vận thì hiệu quả càng cao.

PHI TINH NĂM GIÁP NGỌ (2014)

+ PHI TINH NĂM GIÁP NGỌ (2014)

Phi Tinh Năm Giáp Ngọ (2014):

Tứ Lục nhập Trung cung.
Ngũ Hoàng ở hướng Tây-bắc, nhập Càn cung.
Lục Bạch ở hướng Tây, nhập Đoài cung.
Thất Xích ở hướng Đông-bắc, nhập Cấn cung.
Bát Bạch ở hướng Nam, nhập Ly cung.
Cửu Tử ở hướng Bắc, nhập Khảm cung.
Nhất Bạch ở hướng Tây-nam, nhập Khôn cung.
Nhị Hắc ở hướng Đông, nhập Chấn cung.
Tam Bích ở hướng Đông-nam, nhập Tốn cung.

Trong đó:

+ Ngũ Hoàng. Ngũ hành: Thổ. Chủ tai họa, bệnh tật.
+ Nhị Hắc là Bệnh phù. Ngũ hành : Thổ. Chủ tật bệnh, ôn dịch.

+ Tây Bắc – Ngũ Hoàng Đại Sát (Thổ) – đại hung tinh

Năm nay Ngũ Hoàng Đại Sát bay vào Tây Bắc phương, Ngũ Hoàng là Lưu Niên Quan Sát, phương này không được hưng công động thổ, nếu không tất sẽ đem đến hung hiểm, chỉ bệnh tật huyết quang, tai họa, thất bại, phá tài, kiện tụng, thị phi.

Ngoại ý các hung sự, phương này của ngôi nhà, của văn phòng, của cửa hàng v.v…Năm nay cũng không được thảm đỏ, thậm chí bày cây cối chậu cảnh cũng là hung không cát.

Do đây là sao hung hãn nhất không nên gây động tại cung vị này, phải để tĩnh, vì động sẽ làm gia tăng tính hung của nó do đó sẽ không lường trước được hậu quả. Tốt nhất là không đặt phòng sinh hoạt chung tại cung này trong năm nay.

Nếu bố trí thích đáng, chỉ có văn tài thực vật, sự nghiệp thuận lợi. Ngũ Hoàng là hung sát số một, đến đâu cũng không lưu tình, rất nên cẩn thận.

Phương Pháp Vận Dụng Hóa Giải:

Năm nay sao xấu Ngũ Hoàng ở Tây Bắc phương. Ngũ Hoàng thuộc loại đại sát. Kiêng động thổ tu tạo. Nên hóa giải bằng cách dùng Kim tiết, không nên dùng Mộc khắc.

- Tránh sử dụng các vật dụng màu đỏ, hoặc tạo ra lửa ở đây.

- Ở tại phương này của ngôi nhà, của văn phòng, của phòng ngủ, của phòng khách, của cửa hàng, nên treo các đồ bằng kim loại như: Hồ lô đồng, Đèn ngũ hành đồng, Ngũ Đế tiền, Lục Đế Tiền, Long Quy, Tỳ Hưu, Kỳ Lân, chuông gió bằng kim loại 6 ống, Thạch anh trắng.

Nhưng hiệu quả nhất vẫn là đặt một cặp Tỳ Hưu để hóa giải sát khí của sao xấu Ngũ Hoàng Đại Sát, vừa chiêu tài lộc.

+ Đông phương – Nhị Hắc (Thổ) – hung tinh chủ về bệnh tật, đau ốm

Năm nay Nhị Hắc Bệnh Phù Tinh bay vào Đông phương, sao này chủ bệnh tật đau đớn, da thịt đau nhức xương cốt nhức mỏi, huyết quang, không nên coi thường.

Chỗ Bệnh Phù Tinh đến ắt nên hạn chế động thổ, cũng không nên bày chậu cảnh, cây cối và thảm đỏ, nếu không tất là khiến Bệnh Phù Tinh càng thêm hung hãn mà khiến thương vong hoặc quan tư.

Nếu bố trí sai đi, ác phụ khắc phu, trung nam mất sớm, quả phụ đương gia, nhiều bệnh về dạ dày tỳ vị, phu thê tình bạc, phụ tranh phu quyền, dễ bị bệnh dạ dày. Không thể không phòng, nếu bố trí thích đáng tất chủ văn chức, giàu có về địa sản, gia vượng đinh thịnh, mẹ mạnh khỏe.

Nếu cửa lớn, cửa phòng thuộc hướng Đông, đều chủ dễ bị cảm nhiễm bệnh tật hoặc đột phát sức khỏe suy giảm, thậm chí có mổ xẻ, huyết quang, tài vận suy sụp.

Phương Pháp Vận Dụng Hóa Giải:

- Có thể đặt một vật thuộc Kim để hóa giải: Hồ Lô đồng, Đèn ngũ hành đồng, Long Quy, Tỳ Hưu, Thiềm Thừ, Kỳ Lân, Ngũ Đế Tiền, Lục Đế Tiền, Phong Linh 6 ống, Thạch anh trắng, lấy Thổ sinh Kim, lấy Kim sinh Thủy ngũ hành tương sinh, gặp hung hóa cát. Dùng Kim hóa Thổ cũng làm chậm lại ác phá của Nhị Hắc Bệnh Phù.

- Tốt nhất các bạn có nhà ở, hoặc công ty, văn phòng, cửa hàng kinh doanh, ở hướng Đông, năm nay nên bố trí một cặp Tỳ Hưu quay đầu ra cửa chính, để hóa giải sát khí của sao xấu Nhị Hắc, lại vừa chiêu tài lộc cho gia đạo.

- Nếu các bạn có giường ngủ ở hướng Đông (so với trung tâm ngôi nhà), các bạn nên treo tiền đồng, hồ lô đồng, đèn ngũ hành đồng.

- Nếu nhà các bạn hoặc văn phòng, hoặc cửa hàng kinh doanh, có cửa sổ ở hướng Đông, các bạn nên treo tiền đồng hoặc phong linh bằng kim loại.

- Nếu các bạn có bếp hướng Đông, các bạn nên đổi hướng bếp hoặc treo tiền đồng trước bếp.

Xem Bói Đầu Năm

Thông thường vị khách này đã được chọn tuổi hợp với chủ nhà như sau:

1- Chủ nhà tuổi Tý : Thì chọn người tuổi Thân, Thìn (Tam hợp), Tuổi Sửu (Nhị hợp).
2- Chủ nhà tuổi Sửu : Thì chọn tuổi Tỵ, Dậu, Tý.
3- Chủ nhà tuổi Dần : Thì chọn tuổi Ngọ, Tuất, Hợi.
4- Chủ nhà tuổi Mẹo : Thì chọn tuổi Mùi, Hợi, Tuất.
5- Chủ nhà tuổi Thìn : Thì chọn tuổi Tý, Thân, Dậu.
6- Chủ nhà tuổi Tỵ : Thì chọn tuổi Sửu, Dậu, Thân.
7- Chủ nhà tuổi Ngọ : Thì chọn tuổi Dần, Tuất, Mùi.
8- Chủ nhà tuổi Mùi : Thì chọn tuổi Mẹo, Hợi, Ngọ.
9- Chủ nhà tuổi Thân : Thì chọn tuổi Tý, Thìn, Tỵ.
10- Chủ nhà tuổi Dậu : Thì chọn tuổi Sửu, Tỵ, Thìn.
11- Chủ nhà tuổi Tuất : Thì chọn tuổi Dần, Ngọ, Mẹo.
12- Chủ nhà tuổi Hợi : Thì chọn tuổi Mẹo, Mùi, Dần.

Hoặc cách chọn tuổi xông đất, xông nhà theo Thiên Can như sau:

1. Tuổi Giáp hạp với Kỷ mà kỵ với Canh.
2. Tuổi Ất hạp với Canh mà kỵ với Tân.
3. Tuổi Bính hạp với Tân mà kỵ với Nhâm.
4. Tuổi Đinh hạp với Nhâm mà kỵ với Quý.
5. Tuổi Mậu hạp với Quý mà kỵ với Giáp.
6. Tuổi Kỷ hạp với Giáp mà kỵ với Ất.
7. Tuổi Canh hạp với Ất mà kỵ với Bính.
8. Tuổi Tân hạp với Bính mà kỵ với Đinh.
9. Tuổi Nhâm hạp với Đinh mà kỵ với Mậu.
10. Tuổi Quý hạp với Mậu mà kỵ với Kỷ.

(Nếu chọn được Thiên Can hạp và Tuổi hạp lại càng thêm tốt. Nếu chọn Thiên Can hạp, nhưng lưu ý Tuổi xung: Tý-Ngọ xung, Mẹo-Dậu xung, Thìn-Tuất xung, Sửu-Mùi xung, Dần-Thân xung, Tỵ-Hợi xung, thì cũng nên tránh).

Hoặc chọn theo mệnh:

Chủ nhà mệnh Kim nên chọn người mệnh Thổ, Thuỷ, Kim.
Chủ nhà mệnh Mộc nên chọn người mệnh Thuỷ, Hoả, Mộc.
Chủ nhà mệnh Thuỷ nên chọn người mệnh Kim, Mộc, Thuỷ.
Chủ nhà mệnh Hoả nên chọn người mệnh Mộc, Thổ, Hoả.
Chủ nhà mệnh Thổ nên chọn người mệnh Hoả, Kim, Thổ.

(Nếu chọn được mệnh hạp, nhưng lưu ý Tuổi xung: Tý-Ngọ xung, Mẹo-Dậu xung, Thìn-Tuất xung, Sửu-Mùi xung, Dần-Thân xung, Tỵ-Hợi xung, thì cũng nên tránh).

Hoặc chọn theo trạch lưu niên:

Năm nay người 19-28-37-46-55-64-73 được trạch Phúc, tốt
Năm nay người 20-29-38-47-56-65-74 được trạch Đức, tốt
Năm nay người 17-26-35-44-53-62-71 đượctrạch Bảo, tốt
Năm nay người 18-27-36-45-54-63-72 được trạch Lộc, tốt
Những tuổi còn lại là trạch : Bại, Hư, Khốc, Quỷ, Tử đều xấu.

(Nếu chọn được người có tuổi trạch tốt, nhưng lưu ý Tuổi xung: Tý-Ngọ xung, Mẹo-Dậu xung, Thìn-Tuất xung, Sửu-Mùi xung, Dần-Thân xung, Tỵ-Hợi xung, thì cũng nên tránh).

Tuy nhiên không phải lúc nào gia chủ cũng nhờ được người hợp tuổi với mình đến để xông đất, nên đa số gia chủ áp dụng kinh nghiệm dân gian là chọn người tốt vía hay còn gọi là nhẹ vía, có nghĩa là người đó trong cuộc sống có tính tình dể chịu, vui vẻ, nhiệt tình may mắn v.v…đến xông đất vào sáng sớm mùng một Tết.

Tất nhiên vị khách được “Đặt cọc” này phải chuẩn bị phong bao màu đỏ để đến xông đất và “nhập tài” cho gia chủ, để gia chủ lấy hên đầu năm mới. Và gia chủ sau đó phải đáp lễ với vị khách này cũng như vậy và cùng chúc nhau những điều tốt đẹp…

HƯỚNG XUẤT HÀNH
Việc xuất hành đầu năm mới đã trở thành phong tục cổ truyền từ lâu đời với mong muốn một năm mới làm ăn phát đạt và gặp nhiều may mắn.

Giờ và hướng xuất hành: Thông thường ngày mồng một Tết mọi người thường chọn giờ và hướng xuất hành.

Giờ hoàng đạo: Mọi người thường chọn giờ Hoàng đạo vào lúc sớm để xuất hành. Để sau đó người ta còn phải đi nhiều việc khác như lễ chùa, thắp hương nhà thờ tộc, trực cơ quan…

Hướng xuất hành: Có hai hướng là hướng Tài Thần và Hỉ Thần. Nhưng người ta vẫn thích xuất hành về hướng Hỉ Thần, là vị Thần mang lại nhiều may mắn và niềm vui. Còn hướng Tài Thần người ta ít thích với lý do là chỉ có tài lộc mà thôi.

(Hướng xuất hành: Là hướng được tính theo đường chim bay, so với nhà ở).

Hái lộc: Hái lộc là đến vị trí nơi mình xuất hành, dừng lại thầm khấn trong miệng tên tuổi và xin Thần Mộc cái lộc đầu năm để cả năm làm ăn thuận lợi. Sau khi khấn xong thì bẻ một nhánh nhỏ có chồi non (chứ không phải ào ạt bẻ sạch nhành lá như ta thường thấy xảy ra ở các công viên một cách vô ý thức…)

XUẤT HÀNH ĐẦU NĂM GIÁP NGỌ (2014)

Năm nay ngày mùng một Tết, ngày Nhâm Dần – Thuộc Kim. Sao Ngưu. Trực Trừ.

* Hướng Hỉ Thần : Hướng Nam. Tốt nhất nên xuất hành về hướng Nam: Đại cát lợi.
* Hướng Tài Thần: Hướng Tây.

Giờ xuất hành: có 6 giờ Hoàng đạo như sau:

- Giờ Tý : Từ 23 đến 1 giờ. (Kỵ tuổi Ngọ. Hợp tuổi Thìn, Thân, Sửu)
- Giờ Sửu: Từ 1 đến 3 giờ. (Kỵ tuổi Mùi. Hợp tuổi Tỵ, Dậu, Tý)
- Giờ Thìn: Từ 7 đến 9 giờ. (Kỵ tuổi Tuất. Hợp tuổi Tý, Thân, Dậu)
- Giờ Tỵ: Từ 9 đến 11 giờ. (Kỵ tuổi Hợi. Hợp tuổi Sửu, Dậu, Thân)
- Giờ Mùi: Từ 13 đến 15 giờ. (Kỵ tuổi Sửu. Hợp tuổi Mẹo, Hợi, Ngọ)
- Giờ Tuất: Từ 19 đến 21 giờ. (Kỵ tuổi Thìn. Hợp tuổi Dần, Ngọ, Mẹo)

Đến giờ Hoàng đạo như trên, xuất hành về hướng Nam (Hỉ Thần: Đại cát lợi).

(Các tuổi không kỵ, không hợp với giờ xuất hành, vẫn xuất hành tốt, không nhất thiết phải đợi đến giờ hợp tuổi mới xuất hành).

Trước Tết lo tìm lần vị trí của hướng Nam so với nhà ở theo đường chim bay.

Ví dụ:

* Nhà hướng Nam sát đường, trong nhà bước ra rẽ trái đến một ngã tư được 100m, thì từ ngã tư này tiếp tục rẽ phải đi đến một ngã tư tiếp theo, từ ngã tư này tiếp tục rẽ phải cũng 100m, và dừng lại, tại đây đúng là vị trí của hướng Nam so với nhà ở theo đường chim bay.

* Hoặc nhà hướng Tây sát đường, trong nhà bước ra rẽ trái từ 200m trở lên thì dừng lại, tại đây đúng là vị trí của hướng Nam so với nhà ở theo đường chim bay.

Căn cứ vào ví dụ trên mọi người ai cũng có thể tự tìm ra vị trí hướng Nam so với nhà ở của mình theo đường chim bay.

Sau khi đã đến được vị trí hướng Nam thì dừng lại “hái lộc” xong quay về nhà, cắm “nhánh lộc” lên lọ hoa trên bàn thờ. Thế là xong thủ tục xuất hành đầu năm, sau đó đi đâu tùy thích…

Văn khấn Công Đồng Tứ Phủ

Văn khấn Công Đồng Tứ Phủ

Nam mô A Di Đà Phật(5 lễ)
Nhất thiết cung kính,nhất tâm kính lễ thập phương pháp giới thường trụ Tam Bảo(3 lần)
Nam mô Phật,Nam mô Pháp,Nam mô Tăng
Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật(3 lần)
Nam mô đại từ,đại bi tầm thanh cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát(3 lần)

Con sám hối con lạy chín phương trời 10 phương chư phật,chư đại Bồ Tát,chư Thánh Hiền Tăng.
Đệ tử con muôn trung bách bái,nhất tâm cung thỉnh:
-Tam Phủ công đồng,Tứ Phủ Vạn linh

-Tam vị đức Vua cha,Đức tam thập tam thiên thiên chúa Đế Thích Đế hoàn nhân tiên Thánh đế cung duy Hiệu Thiên Trí Tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao thượng đế tối linh ngọc bệ hạ,Đức Vua cha Bát Hải Động Đình Thủy quốc Long Vương:Trấn Tây An Nam Tam Kì Linh Ứng Vĩnh Công đại vương Thượng đẳng tối linh thần.
-Thiên tiên Cửu Trùng Vương Mẫu,Cửu thiên huyền nữ Phạm Thị Chân Nhân bán thiên Mão Dậu công chúa cập thị tòng bộ chúng
-Tam Tòa Thánh Mẫu tối tú anh linh:Đệ Nhất thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh công chúa,đệ nhị thượng ngàn,Lê Mại Đại Vương, Diệu Tín,Diệu Nghĩa thiền sư Bạch Anh Quản trưởng sơn trang công chúa,Đệ Tam Thoải Phủ Xích Lân Long Nữ công chúa.

-Trần triều hiển thánh nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương Quốc Công Tiết Chế Thượng đẳng phúc thần ngọc bệ hạ.
Trần triều vương phụ,vương mẫu,vương phi phu nhân,vương huynh ,vương đệ,vương tử,vương hôn,vương nữ,vương tế,vương tôn chư vị tướng tá bộ hạ các quan công đồng Trần Triều uy phong lẫm liệt.
-Cung thỉnh Tam vị Chúa Mường:đệ nhất Tây Thiên,đệ nhị Nguyệt Hồ,đệ tam Lâm Thao
_Chúa Bà Cà Phê ,Tiên Chúa Thác Bờ-Hòa Bình công chúa,Ngũ Phương Bản Cảnh Chúa bà bạch hoa công chúa tối tú tối linh,hội đồng chúa bói,hội đồng chúa chữa,hội đồng chúa Mán,hội đồng chúa Mường,lục cung chúa chầu các bộ sơn trang,sơn lâm công chúa,tam thập lục cung công chúa,lục thập hoa giáp thần nương.

-Cung thỉnh tứ phủ chầu bà,Năm tòa quan lớn,10 dinh các quan.Bát bộ sơn trang thập nhị tiên cô trên ngàn dưới thoải,Thủ điện công chúa tối tú tối linh.Con kính lạy tứ phủ quan hoàng.Kim niên đương cai Thái Tuế Chí đức tôn thần,đương cảnh thành hoàng bản thổ liệt vị đại vương.Đức hoàng triều đức hoàng quận.Thượng Thanh Bản Mệnh nguyên thần chân quân,Thiên Tào Hoa Giáp thủ mệnh công chúa,Ông thủ đầu đồng chầu bà quyền cai bản mệnh giáng phúc lưu ân trừ tai giải ách.Tứ phủ thánh cô,tứ phủ thánh cậu,cậu bé bản đền,cô bé bản đền.Ngũ lôi thiên tướng, ngũ hổ đại thần chư vị các quan, thiên thiên lực sĩ ,vạn vạn tinh binh,binh hùng tướng mạnh,chư tư quan tướng,giáng đền giáng phủ,tế thế cứu dân.Thanh Xà đại tướng,Bạch Xà đại quan.Thổ công chúa đất chư vị tôn thần bản sứ.
Con kính lạy công đồng các giá ,hội đồng các quan ,trên ngàn dưới thoải ,18 cửa rừng,12 cửa bể,cửa đình thần tam tứ phủ tối tú anh linh,tối cao,tối sáng,tận thương tận độ!
Hôm nay là ngày...tháng...năm...
Đệ tử con là.....(tuổi)thê........(tuổi)sinh nam tử.....(tuổi)nữ tử.............v.v.............
đồng gia quyến đẳng
Ngụ tại địa chỉ:..................................................................
Ngày hôm nay cát nhật đương thời,đệ tử con tâm thành chí nguyện 1 dạ 1 lòng mộ đạo ân cần,đường xa không quản mưa nắng không nề,nhất tâm về bái yết cửa cha cửa mẹ của đình thần tam tứ phủ.Cúi xin Phật thánh thương xót giáng đền giáng phủ ,xe loan giá ngự, chấp lễ chấp bái,chứng minh công đức, giáng phúc lưu ân cho quốc thái dân an,mưa thuận gió hòa,thiên hạ thái bình,muôn nhà được hưởng ấm no hạnh phúc,phù hộ độ trì cho gia đình con được toàn gia an lạc công việc hanh thông,người người được chữ bình an,tám tiết hưởng vinh quang thịnh vượng,lộc tài tăng tiến,tâm đạo mở mang sở cầu tất ứng sở nguyện tòng tâm,ngũ phúc lâm môn,thân tâm an lạc, quả đạo viên thành,đầy thuyền mãn quả,gia đạo hưng thịnh.Có lộc có tài có ngân có xuyến để trên lo được việc thánh dưới gánh được việc trần,thần hôn phụng sự cửa đình thần tam tứ phủ được mãn chiều xế bóng.Xin các Ngài thương lời con kêu nhận lời con khấn,nhất tội ngài nhất xá,vạn tội ngài vạn thương!
Dãi tấm lòng thành cúi xin Phật Thánh Chúa Tiên anh linh chứng giám!!!
Cung thỉnh công đồng Tổ tiên nội ngoại,Tổ Cô Mãnh Tướng,cậu bé cô bé tại gia đẳng đẳng chư vị chân linh sống vi anh tử vi linh về hầu cửa Phật cửa Thánh trên tấu thượng thiên,dưới tấu tòa vàng thoải phủ,kêu thay lạy đỡ cho con cháu cháu chắt của Tổ được kêu thấu,tấu nổi,đắc lễ đắc bái đắc yêu đắc cầu.Đức Tổ cao minh tận thương tận độ!!!
-----------------------Lễ tạ 4 lễ----

Lễ nhà Trần

1. Lễ cầu an dân quốc
Tiến lễ - Dân tự cầu lễ
Trung lễ - Quan dân cùng làm lễ
Đại lễ - Toàn vua, quan, dân chúng làm lễ
2. Lễ bảo an gia đình
Xin bùa dấu trấn tà trị bệnh
3. Lễ tam phủ đối kháng giải nghiệp
Giải nghiệp ngục tù báo trướng bệnh hạn, vận hạn…
Trước đó:
- Lễ phát tấu
- Lễ phật
- Tụng kinh
- Lễ nhà Trần
- Lễ Mẫu
- Lễ hạ ban Ngũ hổ và các quan



Lễ tam phủ đối kháng như sau:
Thiên phủ tức “thanh thiên” trời xanh
Địa phủ tức “bạch địa” đất trắng
Thủy phủ tức “xích thủy” nước đỏ
Tự nhiên trời là xanh, tính trong của đất là trắng, cốt huyết của thủy là đỏ, vì vậy ở đây tất cả phủ thiên là màu xanh, phủ địa màu trắng, phủ thoải màu đỏ.
Mỗi phủ 3 quyển vở, 3 cái bút, 3 cái gương, 3 cái lược, 3 cái quạt, 3 quả cau, 1 đĩa hoa, 1 đĩa gạo muối, 1 đĩa tiền, 1 bao thuốc, 1 lạng chè, 1 bao diêm, 1 lọ nước hoa, 3 khăn mặt bông, 1 bó đuốc, 5 nén hương phủ, 9 hoặc 7 quả trứng thuộc vía, 1000 vàng đại, 1000 vàng tiểu, 1 cầu giấy, 1 gáo, 1 chum, 1 bát con, 1 cây trồng, 1 con chim trắng (thiên phủ) gà trắng (địa phủ) cá chép (thoải phủ), 1 cờ xanh (thiên phủ) cờ trắng (địa phủ) cờ đỏ (thoải phủ). Mỗi phủ đều có 1 cành phan, 1 dao, 1 kéo, 1 ngọn đèn dầu.
Pháp sư làm lễ (không có đạo trưởng dẫn trình).
Sau khi pháp sư làm lễ ??? khi lễ đến thiên phủ thì pháp sư xin đài cài cờ thiên phủ vào gáy rồi dùng kiếm lệnh khai phủ. Lấy một quả trứng, dùng kéo cắt hai đầu xoắn, sau đó bóc trứng ra đặt vào bát con rồi lấy hương thả vào bát, lấy gáo múc nước tưới vào trứng 3 lần, miệng đọc khẩu quyết: “Thỉnh thiên phủ cắt dây cởi trói, cắt giải oan khiên nghiệp chướng cho sinh nhân …… tuổi ……. được thần khí lai hoàn, bản mệnh khang cường, phúc thọ khang ninh. Nguyện chú các linh hồn oan gia cừu thù tiên tổ tốc thoát tà ma siêu sinh cực lạc. Nam mô giải oan kết bồ tát ma ha tát. Nam mô hoan hỉ bố tát ma ha tát”.
Đốt đuốc phóng lên thiên phủ. Pháp sư dùng kéo cắt dây hình nhân thiên phủ, dùng gương lược, hương, khăn mặt, quạt khai quang phủ thiên và hình nhân cho trồng cây thiên phủ báo ân, tha chim giải nghiệp. Cho sinh nhân uống nước thiên phủ và rửa mặt.
Phủ địa và thoải cũng làm như vậy.
Sau khi hết ba phủ thì thỉnh lễ nhà Trần. Pháp sư dùng kéo cắt dây cởi trói hình nhân bản mệnh, khai quang làm lễ. Pháp sư khai quang ngựa mã sau đó hỏa hóa kim ngân tài mã.
Thày đại tấu dẫn trình
Sau khi pháp sư cúng thỉnh các khoa giáo thì thầy đại tấu thay xiêm y vào hành đạo. Trước khi hành đạo dùng dây vải buộc tay các hình nhân thiên địa thoải vào nhau, cắt 1 áo vải trước viết chữ “tù” sau viết chữ “ngục”, đằng trước bên phải viết họ tên, tuổi, ngày sinh, giờ sinh của sinh nhân. Đặt sinh nhân nằm ngửa mặt, đầu quay vào đền, chân ra cổng, trói sinh nhân chéo vòng cổ sang hai tay. Xung quanh hình nhân là 7 hoặc 9 đĩa sành úp, trên đầu hình nhân là 3 ngọn đèn dầu. Trước 3 ngọn đèn dầu là 1 chum nước bịt giấy, trên chum nước úp 1 chiếc đĩa sành, bên cạnh là chiếc áo của sinh nhân. Để 1 cái ghế ngang chum nước phía tay phải nhìn từ ngoài vào trong. Thày đại tấu hầu tráng bóng 3 giá Mẫu, sau đó hầu Đức đại vương hoặc tứ vị hoàng tử. Ngài về làm lễ khai quang kiểm soát đầu phủ. Chừng xa loan giã ngự long mã, bạch tượng. Sau đó Ngài ngự ghế nghe tuyên trạng rồi Ngài phê trạng ký sổ. Ngài dùng 3 hiến hương thư vào chum “tứ trung ngũ hành” và chữ “tâm” sau đó dùng kiếm hất đĩa xuống sao cho đĩa vẫn úp. Ngài dùng chân dẫm tan đĩa, dùng kiếm khai giếng ngọc (giếng sinh nhân để cải tử hoàn sinh chứ không phải giếng phủ). Ngài lấy nước vẩy vào hình nhân và cho sinh nhân uống, rửa mặt. Sau đó xe giá hồi cung. Cô đệ nhị Đại Hoàng về chứng lễ chứng sớ long mã, bạch tượng; dùng kéo cắt bỏ dây bỏ dây trói tù ngục của người hình nhân bản mệnh.
Quan đệ nhất về khai quang chứng voi xanh, ngựa xanh, thuyền xanh. Ngài ngự vào ghế bên phải pháp sư tuyên trạng kể tội, phê sớ giải nghiệp, sau đó lấy cờ thiên phủ cắm vào gáy, dùng kiếm khai thiên phủ làm như pháp sư. Chỉ có khẩu quyết là pháp sư cung văn đọc, tứ trụ kêu. Ngài ra chỗ hình nhân bản mệnh dùng kiếm thư vào 2 hoặc 3 đĩa úp cạnh hình nhân chữ tâm, rồi dùng chân dẫm tan đĩa. Ngài hô to một tiếng “thừa lệnh thiên phủ khai phá thiên ngục giải thoát sinh nhân bất đắc cừu đình cấp như luật lệnh”. Sau khi phá ngục, thắp một ngọn đèn dầu khai quang, lấy nước vẩy vào người hình nhân thiên phủ và bản mệnh, rồi cho sinh nhân rửa mặt và uống 3 ngụm.
Quan đệ nhị, đệ tam cũng vậy.
Quan tuần về làm lễ khai quang dùng chuôi dao hất hình nhân bản mệnh nằm sấp, rồi dựng hình nhân lên quay mặt vào cung thờ. Ngài cầm kéo cắt áo ngục tù, lấy gương, quạt, hương khai quang. Ngài lấy nước tam phủ cho sinh nhân uống, lấy nước rửa mặt, lấy lược chải tóc hoàn hồn, lấy áo cho sinh nhân mặc cho yên bản mệnh. Đưa hình nhân bản mệnh vào lễ tam phủ, sau đó lạy thiên địa thoải. Các quan tiễn đàn. 
Nếu đồng nhân xin thuốc Tứ phủ thì hầu chầu Lục, ông Bảy, cô Đôi, cô Bơ, cô Sáu, cô Chín, cô Bé. Cô Đôi hái thuốc, cô Bơ lấy nước, cô Sáu sao thuốc, cô Chín làm thang, cô Bé phù chú. Nếu cầu duyên thì hầu chầu Đệ tam, ông Bơ, cô Bơ, cô Chín. Nếu cầu tài lộc thì hầu chầu Đệ nhị, ông Mười, cô Bơ, cô Bé.
Chú ý các cờ thiên phủ, địa phủ, thoải phủ sau khi làm lễ giải xong thì cắm vào gáy các hình nhân.
Phê sổ thì pháp sư phê như sau “Phật pháp tăng Ngọc Hoàng sắc chỉ. Thiên phủ lệnh hành (địa phủ, thoải phủ) giải oan giải oan kết”. Sau đó quan lớn Ngài phê chứ “ứng” và đè lên là chữ “tâm” của phủ thiên, chữ “chí” hoặc “phúc” của phủ địa, chữ “mệnh” của phủ thoải. Hai bên phê chữ “thập tốc”.
Như vậy ta thấy lễ ở đây rất khác với tứ phủ. Lễ tam phủ dành cho người ốm đau bệnh tật, tiền duyên nghiệp kiếp cả âm lẫn dương còn lễ tứ phủ dành cho người sống lễ căn mạng.
Nếu không có thày đại tấu thì pháp sư làm tất. Nếu có thày đại tấu thì pháp sư lễ và làm việc văn sớ.
Phải có 9 thước vải hồng làm cầu.
Đàn lễ này làm người ta nhầm tưởng là mở phủ nhà Trần nhưng không phải mà ở đây là Ngài về khai giếng ngọc để làm thuốc và chữa bệnh cho sinh nhân (không phải là khai phủ). Đa số trước đây các cụ làm đàn này thương cho sinh nhân đội lệnh nhà Trần kèm theo nên có một số người nhầm tưởng là mở phủ nhà Trần. 
Nếu làm lễ tập trung thì phải bày riêng mâm phủ, bát con và hình nhân. Vàng tiến cúng tam phủ ngoài vàng phủ ra còn có thêm 6000 vàng đại thiếc (3000 cho nhà Trần, 1000 cho Ngọc Hoàng, 1000 đương cảnh, 1000 đương niên), 1000 đỏ bản đền, 5000 ba quan, 2000 vàng (Nam Tào tím, Bắc Đẩu đỏ), 1000 vàng ba màu, 1000 vàng bốn màu, 1000 vàng năm màu. Phải có chim, cua, ốc phóng sinh.
Nếu làm ở đền nhà Trần không có bốn phủ phải thiết lập bài vị bốn phủ. Nếu làm ở Kiếp Bạc, Bảo Lộc chỉ được làm ở cung Mẫu và quan Nam Tào, Bắc Đẩu. Đàn lễ này là đàn lễ kết hợp “kim chi” lấy tam phủ và nhà Trần làm chủ đạo. Đàn lễ này nên làm ở các đền thờ kim chi và đền tam phủ Tuần Vường nơi thờ “thiên đại thoải công đồng thánh đế”.

Thức Lễ Nhà Trần

Vàng mã nhà Trần không được quy định như bốn phủ vì không có nợ hay mở phủ nhà Trần. Chỉ cần chục vàng lá, trăm vàng đại thiếc là hành lễ được. Nếu tiến cúng nhà Trần để xin binh xin quyền thì có 3 đàn để tiến cúng
• Đàn tiểu: dâng từ 1 đến 6 ngựa đỏ (1 Đức đại vương, 4 vị hoàng tử, 1 Đức ông phò mã)
• Đàn trung: 6 đến 8 ngựa đỏ, 1 kiệu rồng 1 voi vàng hoặc trắng, 1 thuyền rồng đỏ, 60 người lính năm phương năm màu (1 ngựa, 1 voi, 1 kiệu dâng Đức ông; 4 ngựa dâng Tứ vị hoàng tử, 2 ngựa dâng Đức ông tả hữu,1 ngựa dâng Đức ông phò mã, thuyền rồng dâng cô Đệ nhị Đại Hoàng)
• Đàn đại: ngũ phương binh tướng (ngũ phương binh lực), Đức đại vương dâng 1 long mã đỏ, 1 thuyền rồng đỏ, 1 kiệu vàng, 1 bạch tượng; Tứ vị hoàng tử dâng 4 ngựa đỏ, 4 voi vàng, 4 thuyền rồng; Đức ông phò mã dâng 1 ngựa đỏ; Đức ông tả Yết Kiêu dâng 1 ngựa đỏ, Đức ông hữu Dã Tượng dâng 1 voi đen; cô Đệ nhất 1 xe loan; cô Đệ nhị 1 phượng cát, 1 thuyền rồng vàng, 1 voi vàng; Lục bộ binh tướng khâm sai dâng 6 tướng cưỡi ngựa đỏ cắm cờ năm màu. Đông phương 12 đội quân, mỗi đội 12 lính mặc áo xanh cưỡi ngựa cầm kiếm, 1 vị tướng cưỡi ngựa đứng đầu cắm cờ xanh. Nam phương màu tím, Bắc phương màu đỏ, Tây phương màu trắng, Trung phương màu vàng, Tiền binh màu đỏ, Hậu binh màu đen, tất cả đều số lượng như trên. Ngoài ra ở Trung phương còn thêm 6 đội binh (12 quân) cầm trung tiễn, 6 đội quân cầm giáo, 6 đội quân cầm kiếm, 1 tướng cưỡi ngựa vàng cắm cờ vàng; Nam phương các binh đều cưỡi voi đen và 1 tướng đi đầu cưỡi voi đen cắm cờ đen; Bắc phương các tướng ẩn xe hỏa và bắn pháo, đi đầu là xe ngựa trên có lốt tướng cắm cờ đỏ; Tây phương các binh đứng trên thủy xa, mỗi tướng đứng trên thuyền rồng trắng cắm cờ trắng; Tiền binh mỗi đội đều gồm 4 xe ngựa, trên mỗi xe 3 lính, 1 tướng ngồi trên xe; Hậu binh các đội đều cưỡi ngựa, 1 tướng ngồi trên ngựa cắm 5 loại cờ. Ba đội binh thượng Nùng, Tày, Mường mỗi đội gồm 6 tiểu đội đi thuyền độc mộc, 6 tiểu đội đi mảng, 6 tiểu đội cưỡi ngựa, 6 tiểu đội bộ binh, 5 lốt tướng giả hổ (đầu hổ mình người), 100 cờ lệnh các màu, 3 mũ Bình thiên tam phủ, 1 mũ Ngọc Hoàng vàng, Nam Tào tím, Bắc Đẩu đỏ, 1 hành khiển, 1 hành binh (màu sắc tùy theo năm đó), mũ đương cảnh thành hoàng (tùy địa phương), mũ Đức ông, Tứ vị hoàng tử, Đức ông phò mã, Lục bộ đức thánh (tất cả đều màu đỏ), 1 mũ thày văn đỏ, 1 mũ thày võ đỏ, 3 mũ phượng màu đỏ, vàng, vàng dâng Vương phi va 2 cô, 17 mũ quan văn, 17 mũ quan võ các màu, 36 mũ rừng man di bộ tướng, 36 cờ tiễn thêu rồng, 36 cờ thần để không, 8 cờ bát quái in các quẻ, 5 cờ ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ, 5 cờ hỏa tiễn năm màu thêu chữ “lệnh”, 36 cờ khải hoàn thêu chữ “thái bình”.
Trên đây là mã tối thiểu đến tối đa dâng nhà Trần, ngoài ra còn thêm 100 xe lương, 100 kho lương, 100 núi vàng.

Nguyên tắc chung trong hầu đồng


1. Ba giá Mẫu
Tuyệt đối không được mở khăn. Không có khăn phủ diện màu vàng. Không mặc áo Mẫu, nếu mặc thì phải có áo bản mệnh ở trong. Giá Mẫu đệ nhất, đệ nhị lễ hương sống; giá Mẫu đệ tam lễ hương chín.
2. Phật, vua cha Ngọc Hoàng, Mẫu Địa, Mẫu Cửu, công đồng thánh Mẫu
Trong hầu đồng không có hầu Phật, vua cha Ngọc Hoàng và công đồng thánh Mẫu.
3. Áo bản mệnh và khăn phủ diện
Là cái gốc, cơ bản cao nhất trong hầu đồng, vì vậy bắt buộc phải có. Hiện nay có một số đối tượng mặc áo Mẫu để hầu Mẫu còn áo bản mệnh được cúng lễ khai chứng đàng hoàng thì vứt đi đâu, áo Mẫu ai “chứng” mà hầu. Một số kẻ còn ngông cuồng hơn, khác người hơn là dùng khăn phủ diện màu vàng. Tôi không hiểu, khăn vàng này chắc là bóng Phật về chứng để hầu Mẫu vì Mẫu là bồ tát, trong khi đó Phật lại không ngự đồng thì về “chứng” ở đâu. Đối với đạo Mẫu phải được đạo trưởng pháp sư dẫn thỉnh, thay quyền Phật thánh loan giá chứng lễ.
4. Hầu nhà Trần
Hầu Đức ông đệ tam mới lên đai thượng. Cô Đại Hoàng ngự áo vàng. Nhà Trần không ngồi ghế, trừ khi bắt tà để tra xét tà ma. Hành động ngồi ghế là bất kính với 3 giá Mẫu.
5. Các quan
Khi các quan về phải đi mạng chéo, thắt khăn chữ “phúc” hoặc lên nét. Không được đi hia đội mũ, đó là đóng kịch diễn tuồng. Quan đệ nhất thuộc dòng di tu nên khi ngự đồng, khai quang làm lễ, không ngự vui hiến tửu. Quan đệ tứ dòng khâm sai cũng vậy. Khi có quan thày hầu chứng 2 giá quan trên rồi thì đệ tử không được hầu nữa. Khi khai quang bắt buộc phải dùng khăn tấu hương. Giá các quan Ông hoàng, Cậu phải lễ 4 lần, mỗi lễ lễ 3 vái ở giữa, 2 vái 2 bên, 1 vái tất cả. Các giá trên lễ phải dùng khăn tấu hương và hương. Mỗi lần lễ là biểu hiện dâng hương về mỗi phủ một lần. Khi tiến lùi để lễ thì lùi 2 tiến 3. Mặt ngửng lên nhìn công đồng nhưng khi quỳ lễ phải cúi mặt nhắm mắt. Bốn lần lễ không được bỏ hương; nếu chỉ lễ một lần phủ đệ nhất, ba phủ còn lại dùng khăn tầu hương thì khác nào có bát mà không có gạo, có cốc mà không có nước, đó là hành động bất kính. Trừ những vị đồng cựu không đứng lên được thì phải tiến hương lên công đồng, sau đó dùng tay chống gối đứng lên – “ốm tha già thải” , đó là được miễn giảm chứ không phải lệ như thế.
Cúng tế trong hầu bóng khác hành tế trong lễ hội. Cúng tế trong hầu bóng, lùi 2 bước tiến 3 bước dứt khoát, rõ ràng nhưng hơi nhanh biểu hiện sự làm việc tâu đồi tiến cúng, là bóng quan về làm việc. Hành tế trong lễ hội biểu hiện sự đồng tiến và là quan viên chứ không phải bóng quan, vì vậy đi theo nhịp trống, có chủ tế, tiến hương tiến hoa riêng biệt. Đó là người trần cúng tiến lễ nghi.
Giá các quan gấp khăn tấu hương và châm hương để khai quang chứ không dùng khăn tay hay khăn mặt (khăn tay, khăn mặt chỉ để lau chùi mà không thể để thay thế khăn tấu hương). Quan tuần tiễn đàn phải rải gạo muối
Múa kiếm múa đao không được chỉ vào công đồng, không được cứa cổ mình.
6. Tất cả các hành động lễ ngự, làm việc, khăn áo đều phải xin phép và chứng hương
Chứng người, chứng ngựa, chứng voi, chứng tam đầu đều phải phủ khăn tấu hương lên đầu sau đó khai quang lễ 5 lễ, vỗ vào hông voi, ngựa 3 lần.
Các quan, Ông hoàng, Cậu ngồi xếp vòng tròn hoặc vắt chân chữ ngũ, đeo 2 mạng chéo, nét buộc chữ phúc hoặc khăn mỏ rìu. Các giá Chầu bà và Cô đều phải quỳ hành lễ, khai quang bằng quạt và hương chín. Một số giá như giá cô Cả, cô Bơ về hiến hương không múa cờ thần cờ hội (cờ thần thì để treo, cờ hội chỉ có diễn viên hề trên sân khấu mới múa chứ trong hầu bóng chỉ đi ngọn cờ hồng bằng khăn phủ diện).
Đầu xuân thì không đi cờ kiếm, đi ngọn cờ hồng, chỉ dùng cờ lệnh kiếm lệnh khi khai đền lập phủ. Đầu xuân cũng kiêng mặc đồ trắng kể cả giá bản đền là thoải đều phải mặc áo đỏ khăn đỏ thể hiện ngày vui đầu năm phù hợp với phong tục truyền thống Việt Nam. Hiện nay do sự không hiểu biết và bảo thủ, các vị đồng bóng cứ khăng khăng cho mình là đúng nên đã đảo lộn hết trật tự khuôn phép.
Chỉ có 5 vị quan trên công đồng nên không có thêm vị quan nào khác ??? vị quan bản đền bản cảnh.
Không có cái gọi là Lục phủ tôn ông trong đồng bóng.
Không có cái gọi là Mẫu lâm cung trong đồng bóng.
7. Các giá Chầu và các giá Cô
Các điệu múa giá Chầu giá Cô phải nhẹ nhàng phải nhẹ nhàng. Các Chầu phải lên khăn củ ấu, chữ nhân, nón buồm. Các Cô lên khăn hoa, khăn vành dây, nét. Cô Bơ có thể lên nét 3 màu.
Giá các Chầu các Cô về khai quang đứng quát hiến quạt hiến hương chứ không nghiêng ngả không múa. Giá chầu bà Đệ nhị và chầu Lục về chỉ rải lộc cho bản đền chứ không đi chợ. Giá chầu Năm chầu Bé rải lộc, đi chợ. Giá chầu Mười cưỡi ngựa đeo cờ kiếm, không đi giày. Đầu xuân giá chầu Đệ nhị về rải lộc rải hoa. Vào hè giá tiên cô về giải dịch (tiền và hoa quả). Các thứ đó không ăn được phải thả sông hoặc ngã ba đường. Thường thường về giải dịch là giá cô Đôi hoặc cô Sáu.
Bất kể khi hiến tửu, thuốc hay nước đều phải dùng khăn hoặc quạt che miệng. Không rải tiền xuống đất để chèo đò. Đó là rải tiền cho người chết chứ thánh không cần. Giá cô Bơ cài tiền đò bên hông và cài 1 nén hương sống bên tai. Hầu các giá đều không được quay đáy vào công đồng, không được xỉa xói vào công đồng.
Hầu đồng giá thứ nhất phải tung khăn, tẩy khẩu, phải đội bát nhang trước mới được mở phủ, nếu ốm phải cúng tam phủ thục mệnh trước mới mở phủ. Nơi đội bát nhang là chốn tổ, nơi thờ đó là quan trọng nhất. Nơi mở phủ là mượn cảnh để mở, là thứ hai. Các cụ gọi là “một chốn đôi nơi”. Muốn mở phủ phải có thày khai đàn mở phủ. Mở phủ phải dùng kiếm để mở. Nếu không có căn kim chi thì quan Đệ nhị và Đệ tam về mở phủ, gọi là mở chéo. Còn căn kim chi đôi nước thì cả bốn quan đều dùng kiếm. quan Đệ nhất và Đệ tứ không múa kiếm mà chỉ làm lễ kiếm lệnh để khai phủ thôi. Phủ tượng trưng cho giếng nước của từng phủ “trồng cây, đắp nấm, đào giếng, gieo mầm”. Vì vậy phải dùng kiếm để khai phủ chứ không dùng gáo, làm sao đào giếng bằng gáo được. Người ta gọi là khai phủ chứ không phải gọi theo ngôn từ bịa đặt là động phủ, chọc phủ (không hiểu họ động cái gì, chọc cái gì??).
Hầu đồng phải có sớ hầu, nếu “một chốn đôi nơi” thì phải có sớ bay về các nơi mở phủ, đội bát nhang, nhưng trước đó phải có lễ đến trình báo, sau khi hầu xong 3 ngày mới được lễ tạ. Nếu ở xa thì lễ tạ ngay nhưng khi về chốn tổ vẫn phải lễ tạ bái vọng.
Trước khi hầu đồng phải xin phép thánh, chủ nhang, đạo trưởng, cung văn, pháp sư và bách gia trăm họ. hầu xong phải vái tạ Phật thánh và có lời cảm ơn bách gia. Khi định hầu thánh phải đến xin phép thày, mua lễ lễ thánh xin ngày. Khi mời quan thày, chủ nhang, đồng đền, pháp sư đều phải có lễ đến lễ thánh sau đó mới mời thày, mời đồng. Lộc đưa các vị đó và những vị đồng cựu (24 năm đổ ra mới được gọi là đồng cựu nếu không có điện thờ) phải được đưa bằng đĩa. 
Hầu đồng không nên trùm khăn buồm quá dài. Đó là khăn phủ tượng chứ không phải khăn hầu. Giá các ông Hoàng đi hèo đi thơ. Giá ông Chín không đeo kích cầm batoong trông như thày bói mù dở mà ông là người nho sĩ tu Phật. Không bao giờ người ta đi dép, đi guốc mộc trên sập hầu cả.
Hầu đồng phải nghiêm trang thành kính nhất tâm, vui vẻ hoan hỉ, không xúi bẩy nhau làm những điều không hiểu biết. không nói xấu, lừa đảo nhau, không dựa vào đồng bóng làm những điều bất nhân bất nghĩa, không nên so bì ghen tị, hồ nghi, đồi hỏi, tranh giành nhau về lộc.
Những kẻ lợi dụng đồng bóng là lừa đảo, ác ma. Sự đua đòi, ghen ghét, thù hận chỉ đem lại khổ đau cho bản thân.
Trên đây là những điều tôi được chư tổ và đạo trưởng chỉ dạy. Tôi thống kê lại những phần chính còn trong mỗi giá đồng ở phần trên tôi cũng đã nói về những nguyên tắc đó rồi. Ngưỡng mong quý vị tu tâm tích đức, giữ gìn bản sắc, đi theo đúng đường lối, không bị mù quáng rồi hậu quả nghiêm trọng khó lường.

Nghi thức trước khi Hầu Đồng

A. Phần Trình Lễ
I. Cúng lễ
Để trước tiên nhập vào sự bất tử các thanh đồng thường phải có nghi thức cúng lễ gọi là “trình đồng”.
Phần cúng gồm có:
1- Trình đình, trình miếu, trình đền, trình nghè, trình chùa. Phần lễ này là những phần lễ cáo, nghĩa là báo với chư vị thánh và quan Đương Niên Thành Hoàng, xin ngày giờ ra trình đồng hầu thánh.
2- Phát tấu biểu quan Thỉnh Phật Tuyên Kinh, Báo sám Thù Ân, điền hoàn Tam Tứ Phủ, xuất trình đồng tiến lễ thiên quan, trợ thí cô hồn.
* Phát tấu lễ quan xứ giả
Để chư vị ngũ phương xứ giả, chư vị đương niên, đương cảnh hành binh, bản đền, tất cả có 9 vị làm nhiệm vụ thỉnh và tiếp đón, bảo vệ chư vị phật thánh lai giáng chứng minh cho đàn lễ chu viên hoàn tất. Phát tấu không được gọi là khoa cúng mà chỉ là một phần nghi thức, nghĩa là một nhánh trong phần khoa cúng phật thánh (ở đây tạm thời chúng ta chia riêng như vậy để dễ hiểu).
Thỉnh phật, lễ phật và chư đại bồ tát, chư đại tổ sư, chư vị phạm vương đế thích, sau đó tụng kinh Di Đà Hồng Danh, Dược Sư, Phổ Môn, Bát Dương, Trừ Khủng, Từ Bi Thủy Sám Pháp, Ngọc Hoàng Cốt Tủy.
Lễ Thiên Quan là lễ tiễn các quan Ôn Dịch của năm (các quan chuyên làm dịch bệnh, tam tai vô thường).
Báo sám thù ân: Lễ cầu siêu cho tổ tiên các vong linh tiền duyên nghiệp kiếp nội ngoại được siêu sinh (phần này ít được lễ hiện nay).
Điền hoàn tam tứ phủ: Là lễ Thiên Phủ, Địa Phủ, Thoải Phủ, Nhạc Phủ.
Lễ Mẫu
Lễ Trần Triều
Lễ Sơn Trang
Lễ Hạ Ban
Lễ các Quan Bản Đền
Trợ thí cô hồn: lễ chúng sinh (Bố thí cho các chúng sinh)
II. Phẩm vật dâng lễ
Lễ cáo: trầu cau, rượu thuốc, chè, lễ mặn, hoa quả, vàng hương, sớ.
Lễ phát tấu: 5 ngựa 5 mầu, 5 mũ, 5 quần áo
Hoa quả, lễ mặn, rượu, trầu cau
Mâm phát tấu gồm có: 9 gương, 9 lược, 9 quạt, 9 bút, 9 vở, 9 quả trứng sống, 9 khăm mặt bông, 9 kéo, 9 dao, 9 thỏi mực đỏ, 9 kim, 9 thoi chỉ ngũ sắc, 9 đôi giầy kí linh, 9 bao thuốc, 9 lạng chè, 9 miếng trầu trăm, 9 lọ nước hoa, 9 đồng tiền hành sai, 9 bao diêm, 1 mâm gạo, 1 cân muối.
Lễ phật: oản, ngũ quả, tiền phật quan, vàng lá, trầu hương, nước thanh thủy, nước chè, xôi chè.
Lễ tam tứ phủ: tam sinh (gà, ngan, lợn), trầu, rượu thuốc, hoa quả, vàng hương.
Mâm phủ gồm: 4 mâm trong đó các thức đều có 9 gọi là: “Cửu phẩm Liên Hoa Sinh Lão Thọ và cát tường phú quý”: 9 gương, 9 lược, 9 quạt, 9 bút, 9 vở, 9 quả trứng sống, 9 khăn mặt bông, 1 kéo, 1 dao, 9 thỏi mực đỏ, 9 kim, 9 thoi chỉ ngũ sắc, 1 bao thuốc, 1 lạng chè, 9 miếng trầu trăm, 9 đồng tiền hành sai, 9 bông hoa, 1 bát gạo (thóc), 1 ít muối, 1 lọ nước hoa.
Phủ thiên: trứng bọc giấy đỏ, vàng đại đỏ, vàng tiểu đỏ, 1 hộp sớ đỏ, 1 bó đuốc và 9 nén hương phủ, 1 chum nước bịt giấy đỏ, 1 bát con, 1 gáo dừa (hoặc muôi) 1 cầu giấy đỏ, 1 khăn đỏ dài 1 thước 2.
Phủ thượng: như trên nhưng tất cả là mầu xanh
Phủ thoải: như trên nhưng tất cả là mầu trắng
Phủ địa: như trên nhưng tất cả là mầu vàng
Lễ còn thêm 1000 vàng trung Tam phủ, 1000 vàng trung Tứ Phủ, 1000 vàng hoa đỏ trung, 3000 vàng đại đỏ xanh trắng (hoặc: 1000 vàng đại 3 màu lễ mẫu), 1000 vàng đại thiếc dâng bản cảnh, 1000 vàng thiếc nữa dâng nhà Trần, 1000 vàng đại xanh dâng chúa, 1000 vàng cô xanh, 1 vỉ hải sảo dâng cô, 1 mâm hài 24 đôi (12 đôi to, 12 đôi bé) dâng mẫu và tùy tòng, 5 hình nhân (4 người 4 màu dâng 4 phủ, 1 người màu đỏ dâng bản mệnh), 1 ngựa đại hoặc trung màu đỏ, 1 thuyền rồng trắng, 1 voi vàng (đại hoặc trung), 1 lốt tam đầu trắng, bộ mũ gồm có: mũ bình thiên (đỏ, xanh, trắng, vàng), 1 mũ Ngọc hoàng vàng, 1 nam tào đỏ, 1 bắc đẩu tím, 1 đương niên (tùy vào năm đó), 1 đương cảnh vàng, 5 mũ quan võ 5 màu, 5 quan văn 5 màu, 5 mũ chúa ôn 5 màu, 3 lốt cửu vĩ đỏ, xanh, vàng, 1 bà chúa sơn trang xanh, 2 trầu hầu cận, 12 cô sơn trang, 1 thoi xanh, 1 mảng trắng, 1 voi rừng tiểu, 1 ngựa bạch, 1 gà rừng, 1 tòa núi (trong núi có núi vàng, núi bạc, có động sơ trang, cây cối hoa quả, bách thú, chúa và các cô sơn trang, thập nhị tiên nàng).
Ngoài ra tùy theo từng địa phương có hình thức vàng mã riêng nhưng cái chung đều phải có như trên.
36 quả trứng sơn trang, 5 quả trứng hạ ban, 36 cái quạt, 36 gương, 36 lược, 36 khăn mặt, 36 kim, 36 thoi chỉ, nước hoa, 1 buồng cau trình, 13 miếng trầu tiêm cánh phượng, 1 gói thuốc lào, 3 chén rượu nồng (nghĩa là rượu cho vôi).
Mâm lễ sơn trang gồm: đậu xanh, chè kho, chè đường, nước chè xanh, bánh đúc, bánh đa, khế chua, hoa hồi, măng, quế, chanh ớt, mắm tôm, tôm cua ốc, gà đồng, thịt nướng, cơm lam, bún bánh, đậu phụ, mực, cá…
Phần lễ vật còn cần thêm các phẩm vật dâng thánh của các “hàng giá” khi ngự đồng thường dâng theo màu sắc hoặc các đặc sản dân gian mà các vị thánh đó khi sinh thời thường dùng.